5 loại rong biển mà người Nhật Bản thích nhất!

Tuy là một quốc giao bao bọc bởi núi rừng xung quanh, rất ít diện tích đất trồng trọt, nhưng Nhật Bản lại tháo vát nhờ cậy đến biển để làm nguồn cung cấp thực phẩm cho mình. Điều đó có nghĩa rằng ngoài sản lượng hải sản dồi dào, người Nhật cũng đã khai thác được rất nhiều thực vật biển ăn cũng ngon và bổ dưỡng không kém.

Đối với những người trong khẩu phần ăn kiêng không có rong biển hay những ai mới chập chững khám phá ẩm thực Nhật Bản lần đầu tiên, hiểu tên lẫn phân biệt sự khác biệt giữa loại rong biển này và kia có vẻ khá rối rắm. Vì thế, hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu đến 4 loại rong biển khác nhau hay dùng ở Nhật Bản, tiện thể, bạn cũng nên biết luôn chúng được chế biến như thế nào nhé!

1. Nori

Nori1
(Nguồn ảnh: wasa-bi.com)

Nori (海苔) là loại rong biển thường thấy nhất, dù trông màu xanh nhưng thực chất, rong biển có màu tảo đỏ. Đôi lúc được gọi là “tảo tía” hay đơn giản “rong biển”, nori vẫn được biết đến nhiều bằng cái tên tiếng Nhật của nó. Loại rong biển này trông như tờ giấy và được dùng nhiều nhất để cuốn sushi hay cơm nắm.

Từ thời cổ đại, người Nhật đã ăn nori rồi nhưng lại ăn theo kiểu tương. Cho đến tận thời Edo (khoảng những năm 1750), người ta mới ép khô tương nori thành giấy như chúng ta thấy ngày nay – đó chính là sự ra đời của rong biển khô!

Bây giờ, nori không chỉ được dùng cho món sushi hay onigiri nữa mà còn làm gia vị cho các món soup, mì ramen, hay để làm trang trí hoặc đóng gói làm đồ ăn vặt!

2. Ao-nori

aonori

(Nguồn ảnh: aichi-brand.jp)

Dù đọc và viết tương tự như nori nhưng aonori (青海苔) có nghĩa nori xanh – đây cũng là một loại tảo đỏ, khác với nori bình thường và được dùng để làm gia vị cho nhiều món ăn Nhật khác nhau.

Trong khi ở xứ Wales dùng aomori để làm tương hay chiên lên ăn, Nhật Bản lại hay sử dụng aomori dạng khô hay bột. Rắc aomori lên món ăn sẽ làm tăng mùi vị hơn, đó là bí quyết cho sự ngon khó cưỡng của các món Nhật như mì yakisoba, bánh bạch tuộc takoyaki. Aonori cũng dùng làm gia vị cho tempura và bánh khoai tây chiên nữa chứ!

3. Konbu

Konbu (Nguồn ảnh: vicare.vn)

Konbu (昆布) là một loại tảo biển ăn được, dù bề ngoài so với những anh em khác không được “ăn hình” bằng nhưng konbu lại rất ngon đấy.

Konbu rất giàu ngọt thịt umami, cũng bởi vì như vậy nên konbu là một trong những nguyên liệu chính để làm nên dashi (nước dùng thịt). Bởi vì sự hỗ trợ của dashi trong việc đẩy các hương vị tự nhiên của các nguyên liệu khác lên, dashi konbu được dùng nhiều ở xứ sở hoa anh đào không chỉ các món soup mà còn với các món ăn khác, ví dụ: cơm sushi. Người ta thường hay bán konbu khô, sau đó bạn sẽ luộc lên để thành nước dashi, tuy vậy, bạn cũng sẽ mua được dạng konbu muối với dấm. Đôi lúc, người ta còn dùng dashi làm topping cho sushi hay thái mỏng và tẩm gia vị cho các món ăn phụ như tsukudani.

Konbu dai dai và cũng sền sệt nên lúc đầu bạn ăn có vẻ thấy hơi lạ, nhưng càng ăn lại càng ghiền. Bạn đã nghe qua tên của một loại trà Nhật Bản là konbucha chưa? Trà này được làm từ konbu khô và bột đó.

4. Hijiki

Hijiki (Nguồn ảnh: jpnfood.com)

Hijiki (鹿尾菜) là một loại rong biển khác cũng gắn bó hằng thế kỉ với người Nhật Bản. Loại tảo nâu này mọc hoang dã trên các mỏm núi đá rìa bãi biển. Đối với hijiki, người ta thường bán theo dạng khô, và trông nó có màu đen.

Hijiki thường dùng làm món phụ, người ta ăn không hijiki hoặc kèm với món cá, món rau…

Có lẽ vì thành phần có chứ vitamin B chống lão hóa, hijiki được người Nhật tin dùng hằng trăm năm qua, là bí quyết của mái tóc đen khỏe mạnh.

5. Wakame

Wakame (Nguồn ảnh: pacificharvest.co.nz)

Wakame (若布) cũng là một loại tảo biển khác tương tự như konbu nhưng mềm và bổ hơn. Wakame được liệt kê là dạng tảo nâu mặc dù bạn thấy wakame có màu xanh nhạt. Wakame có nhiều ở phía Bắc Đại tây dương và bờ rìa biển Nhật Bản. Chỉ riêng Nhật Bản thôi, đây là loại rong biển phổ biến thứ ba – sau nori và konbu. Wakame kết hợp với củ hay cá, các món xà lách hay ăn không đều ngon. Súp miso người ta cũng cho wakame làm gia vị nữa. Đặc biệt, wakame rất giàu axit folic (một loại vitamin B) nên nhiều phụ nữ có mang hay ăn để em bé sau này được khỏe mạnh.

Nguồn ảnh: Wasa-bi